RSS

Viêm khớp dạng thấp là bệnh gì?

04 Th3
Viêm khớp dạng thấp là bệnh gì?

Viêm khớp dạng thấp là một bệnh khớp mãn tính,  tự miễn với các biểu hiện tại khớp, ngoài khớp và toàn thân ở mức độ khác nhau , dễ bị chẩn đoán sang một bệnh lý xương khớp khác với các triệu chứng tương đối giống với bệnh gút. Bệnh diễn biến phức tạp và gây ra những hậu quả nặng nề cho sức khỏe của người bệnh.

Viêm khớp dạng thấp

Triệu chứng và quá trình phát triển của bệnh

– Triệu chứng đặc trưng của bệnh viêm khớp dạng thấp biểu hiện: sưng, tấy, nóng đỏ, đau do viêm màng hoạt dịch cua khớp và bắt đầu từ các khớp nhỏ ở ngoại biên như: Các khớp ở bàn tay, cổ tay, bàn – ngón tay, bàn – ngón chân, khớp gối, đối xứng hai bên. (Các chứng của bệnh gần giống như triệu chứng của bệnh gút).

– Cứng khớp, khó cử động vào buổi sáng lúc thức dậy, các triệu chứng này kéo dài hàng giờ, kèm theo các triệu chứng tại khớp là triệu chứng toàn thân như sốt, mệt mỏi, người xanh xao, gầy sút.

– Sưng khớp có thể có tụ dịch nhiều hoặc chỉ sưng phù lên gần giống với các u cục tophi

Giai đoạn đầu: Thường kéo dài 1 đến 3 năm. Giai đoạn này do viêm màng hoạt dịch của khớp nên biểu hiện lâm sàng là: Sưng, nóng, đỏ, đau khớp và hạn chế vận động của khớp. Bệnh diễn biến từng đợt, ở giai đoạn này chưa có dấu hiệu tổn thương “bào mòn” ở sụn khớp và đầu xương. Nếu được phát hiện sớm ở giai đoạn này và chữa trị tích cực đúng cách, bệnh có thể diễn biến tốt.

Giai đoạn sau: Do hậu quả của viêm màng hoạt dịch, nên đã bắt đầu xuất hiện tổn thương “bào mòn” ở sụn khớp và đầu xương, cần chú ý là các tổn thương này khi đã xuất hiện thì không thể mất đi được. Nếu không được chữa trị đúng, các tổn thương ở sụn khớp và đầu xương ngày càng nặng, làm khe khớp dần dần hẹp lại, các đầu xương dính với nhau gây biến dạng khớp, dính khớp, cứng khớp và mất khả năng vận động của khớp. Lúc này bệnh đã ảnh hưởng toàn thân như sốt, xanh xao, suy nhược, chán ăn, gầy sút…

Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm đa khớp dạng thấp.

Viêm khớp dạng thấp

Trong giai đoạn đầu, việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp rất khó khăn. Các thầy thuốc thường phải dựa vào 7 yếu tố sau để chẩn đoán bệnh này:

(1): Cứng các khớp và xung quanh khớp kéo dài ít nhất 1 giờ vào buổi sáng sau khi ngủ dậy.

(2): Tự nhiên (không do chấn thương) bị sưng khớp hoặc tụ dịch khớp của ít nhất 3 khớp.

(3): Ít nhất có một khớp nhỏ bị sưng (khớp cổ tay, khớp bàn hoặc khớp ngón tay).

(4): Biểu hiện của viêm các khớp đối xứng trên cơ thể.

(5): Có “nốt thấp”, là các cục sờ thấy dưới da, nằm ở vị trí chịu lực của cơ thể (thường là ở khớp khuỷu).

(6): Chỉ số yếu tố thấp (RF) cao bất thường khi làm xét nghiệm.

(7): Sự thay đổi biến dạng khớp thấy được trên XQuang tại những khớp bị viêm. Đây là yếu tố đặc trưng của giai đoạn muộn trong bệnh viêm khớp dạng thấp.

Khi có ít nhất 4 trong 7 yếu tố trên, và yếu tố xuất hiện đầu tiên đã lâu trên 6 tuần thì người bệnh được coi là bị bệnh viêm khớp dạng thấp.

Nguyên tắc điều trị bệnh Viên khớp dạng thấp

– Viêm khớp dạng thấp là bệnh mãn tính kéo dài hàng chục năm, đòi hỏi quá trình điều trị phải kiên trì, liên tục có khi đến hết cả đời.

– Điều trị phải kết hợp chặt chẽ giữa nội khoa, lý liệu phục hồi chức năng và ngoại khoa.

– Thời gian điều trị chia làm nhiều giai đoạn nội trú, ngoại trú và điều dưỡng.

– Trong quá trình điều trị cần theo dõi chặt chễ diễn biến của bệnh và các tai biến biến chứng có thể xảy ra.

– Cũng chính vì đặc tính trên mà việc điều trị viêm khớp dạng thấp thường tập trung vào việc chống lại sự tiến triển của bệnh thông qua việc dùng thuốc để kiểm soát viêm và tiến trình của bệnh dưới dạng DMARDs, các thành tố sinh học và Steroid. Trường hợp nếu thuốc không có tác dụng thì bệnh nhân sẽ phải phẩu thuật.
– Khi có các dấu hiệu của viêm khớp dạng thấp, người bệnh nên đến bác sĩ và điều trị sớm để tránh các di chứng về sau, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
– Khi đã được điều trị và kiểm soát bệnh, bạn cần dùng kết hợp các phương pháp sau nhằm tránh bệnh tái phát ở cấp độ cao hơn:
+ Dùng thuốc chống viêm và thuốc giảm đau không có Steroid như lbuprofen
+ Dùng các phương pháp khác ngoài thuốc tây như bôi, đắp hoặc liệu pháp nghỉ ngơi để giảm đau
+ Dùng phương pháp cơ học như Chiropractic hoặc các phương pháp cơ học khác
+ Thuốc ngăn hệ miễn dịch, thuốc tiêm khớp.

Advertisements
 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Ba 4, 2016 in Kiến thức

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: